Tôi đứng trên cái sân xi măng nhám cũ, vừa quét những chiếc lá rơi xuống, vừa nghe trong ký ức văng vẳng câu ngoại vẫn thường mắng mỗi khi thấy chúng tôi nhổ rau hay quét kiến trên sân: “Cha mi, sân của ngoại, ngoại nuôi kiến trồng rau, ngoại thích làm gì thì làm, trồng gì thì trồng, phơi gì thì phơi, mi lên cứ hở tí là nhổ, hở tí là quét, có ai mượn đâu.” Ngày ấy, chúng tôi nghe ngoại mắng thì chỉ cười, chẳng ai nghĩ rằng sau này, chính câu nói ấy lại trở thành một trong những điều khiến tôi nhớ ngoại nhất.
Cái sân của ngoại ngày trước được làm bằng gạch đỏ. Sau này, ông ngoại xin được một ít xi măng về, rồi ông cùng các cậu trám lên những viên gạch ấy. Ông chỉ láng cho mặt sân bằng phẳng chứ không làm quá trơn, bởi ông sợ chân bà đau, những ngày mưa đi lại dễ bị ngã. Cái sân cứ thế ở cùng ông bà qua bao nhiêu năm tháng. Sau này ông mất, ngoại vẫn đi lại trên cái sân ấy, vẫn phơi lúa, phơi khoai, phơi sắn, rồi phơi những mớ cây thuốc ngoại hái được từ nương mang về.
Với một đứa trẻ như tôi ngày ấy, sân của ngoại rộng lắm. Mỗi mùa thu hoạch đi qua, cái sân lại mang một dáng vẻ khác. Khi thì vàng óng màu lúa, khi thì đầy những bắp ngô, những củ khoai, những lát sắn được băm nhỏ, còn có cả những mớ cây thuốc được ngoại mang về phơi dưới nắng. Cứ hết mùa này sang mùa khác, cái sân nhỏ như cùng ngoại đi qua những mùa vụ của cuộc đời.
Ngoại thường giành những việc phơi phóng ấy về mình, kể cả việc mang từng thúng lúa ra sân, rồi miệt mài “đi lúa”. Trời nắng gắt, vậy mà với tấm lưng đã còng, ngoại đội chiếc nón lá, đi đi lại lại trên sân nóng không biết bao nhiêu lần. Chúng tôi thương ngoại, muốn làm thật nhanh để ngoại đỡ mệt, thế nhưng dường như ngoại chẳng bao giờ hài lòng với việc chúng tôi “đi lúa” quá nhanh.
Đến mùa khoai sắn, sau khi chúng tôi rửa khoai rồi mang ra sân băm nhỏ, chặt lát hoặc đập dập cho nhanh khô, ngoại lại mang một chiếc ghế con ra ngồi cùng. Ngoại vừa chỉ cho chúng tôi cách làm, vừa trò chuyện, lúc thì kể chuyện này, lúc lại nhắc chuyện kia. Những buổi trưa như thế, cái sân của ngoại không chỉ có khoai sắn đang phơi dưới nắng mà còn có tiếng nói cười của mấy bà cháu. Đó chỉ là những buổi trưa rất bình thường, nhưng sau này nhớ lại, tôi mới nhận ra đó là những ngày tháng bình yên mà mình may mắn đã từng có.
Mùa nắng, sân của ngoại phơi rất nhiều thứ, nên cũng thường có những đàn kiến đi qua. Chúng tìm đến những hạt lúa rơi vãi, những mẩu khoai sắn, những vụn ngô hay những thứ thức ăn còn sót lại trên sân rồi lặng lẽ tha về tổ. Nền xi măng nhám dưới cái nắng gay gắt nóng lên từng ngày, khiến những thứ được phơi trên đó nhanh khô hơn. Cái sân nhỏ cứ âm thầm gồng gánh tất cả những mùa vụ của gia đình, từ lúa, ngô, khoai, sắn cho đến những mớ rau, mớ thuốc của ngoại.
Cái sân xi măng nhám ấy được làm đã rất lâu, tuổi của nó cũng dần lớn theo tuổi của ngoại. Sau bao nhiêu mùa mưa nắng, trên nền sân bắt đầu xuất hiện những vết nứt. Rồi chẳng biết từ lúc nào, những hạt rau đắng theo gió bay đến, len vào những khe nhỏ ấy. Đến mùa mưa, từng cây rau đắng lại mọc lên, lúc đầu chỉ lấm tấm vài ngọn xanh, sau đó nhiều dần, xen giữa màu xám nâu của nền xi măng cũ. Ngoại thường hái những đọt rau đắng ấy, trộn cùng những thứ rau khác trong vườn để làm cơm. Với ngoại, những cây rau nhỏ bé mọc lên trên sân cũng chẳng có gì đáng ngại, bởi ngoại vốn thích để mọi thứ tự nhiên theo cách của mình.
Còn chúng tôi, mỗi lần về ngoại, đi qua sân thấy rau mọc là lại nhổ hết, thấy kiến bò thành từng đàn là lại lấy chổi quét đi. Mỗi lần nhìn thấy chúng tôi lúi húi nhổ rau, quét kiến, ngoại lại mắng. Hồi ấy, chúng tôi nghe ngoại mắng xong chỉ cười rồi tiếp tục làm việc của mình. Nhưng bây giờ, khi ngoại đã đi xa, tôi mới hiểu trong câu mắng ấy có cả tình yêu của một người bà và niềm hạnh phúc khi nhìn những đứa cháu quây quần bên mình.
Cái sân xi măng nhám cũ của ngoại ngày ngày trải qua mưa nắng, trải qua cả những mùa ngóng trông. Những viên gạch đỏ được trám xi măng vẫn còn đó, những vết nứt trên nền sân còn y nguyên, chỉ thiếu vắng bóng ngoại đi lại trên sân giữa những buổi trưa nắng. Mảnh sân nhỏ từng chứng kiến biết bao mùa lúa, mùa khoai, từng nghe tiếng nói cười của mấy bà cháu, từng chứng kiến những buổi chúng tôi tranh nhau “đi lúa”, nay trở nên vắng lặng. Hàng rau đắng vẫn mọc lên, xanh hơn, nhiều hơn, như thể vẫn đang níu giữ lại một chút gì đó của những ngày xưa.
Bây giờ, mỗi lần trở lại nhà ngoại, nhìn những cây rau đắng và đàn kiến đang nối nhau thành hàng dài trên sân, tôi lại thấy rưng rưng. Trong màu xanh của hàng rau đắng ấy có bóng dáng của ngoại, có những mùa mưa nắng đã đi qua và có cả tuổi thơ của chúng tôi. Những nhành rau đắng rung rinh như gọi tôi trở về với những ngày tháng cũ, ngoại tôi ngồi bên sân, vừa càu nhàu mấy đứa cháu xong lại cười hiền giữa một buổi trưa đầy nắng.
Trang Lê