Gỡ nút thắt, khơi thông nguồn lực cho doanh nghiệp Nhà nước

Luật Quản lý và Đầu tư vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, tức Luật số 68/2025, cùng các văn bản hướng dẫn thi hành, đang mở ra một cách làm mới trong quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Trọng tâm không chỉ là siết kỷ cương, mà còn là trao quyền rõ hơn, phân cấp mạnh hơn, đồng thời giám sát chặt hơn theo hiệu quả cuối cùng.

Đây được xem là bước đi cụ thể để đưa tinh thần của Nghị quyết số 79 của Bộ Chính trị vào thực tế, tạo thêm dư địa cho doanh nghiệp Nhà nước chủ động đầu tư, chủ động quyết định, và chủ động chịu trách nhiệm.

Hiện cả nước có hơn 800 doanh nghiệp có vốn Nhà nước. Trong số này, hơn 500 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; hơn 200 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% đến dưới 100% vốn; còn lại là các doanh nghiệp có tỷ lệ vốn Nhà nước thấp hơn. Nhìn từ cơ cấu này có thể thấy, vốn Nhà nước vẫn chủ yếu tập trung ở mô hình sở hữu tuyệt đối. Trong khi đó, những hình thức đầu tư linh hoạt hơn, như cùng góp vốn với khu vực tư nhân hay tham gia vào doanh nghiệp chưa có vốn Nhà nước, vẫn chưa nhiều. Đây cũng là một trong những điểm Luật số 68/2025 hướng tới điều chỉnh. Cụ thể, luật đã xác lập 5 hình thức đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp, gồm: thành lập mới doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp Nhà nước; bổ sung vốn tại công ty có vốn Nhà nước; góp vốn thành lập doanh nghiệp cùng các thành phần kinh tế khác; và góp vốn, mua cổ phần tại doanh nghiệp chưa có vốn Nhà nước. Đáng chú ý, việc cho phép Nhà nước tham gia góp vốn ngay từ đầu cùng các thành phần kinh tế khác được xem là một điểm mới quan trọng, giúp phương thức đầu tư vốn Nhà nước trở nên linh hoạt hơn, sát với yêu cầu phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần.

Bà Nguyễn Thu Thuỷ - Phó Cục trưởng Cục Phát triển Doanh nghiệp Nhà nước, Bộ Tài chính cho biết: "Liên quan đến đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp, Luật lần này đã bổ sung hình thức góp vốn thành lập công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Đây là quy định mới nhằm điều chỉnh các trường hợp Nhà nước đầu tư vốn lần đầu nhưng không nắm giữ 100% vốn điều lệ. Thay vào đó, Nhà nước thực hiện góp vốn cùng các thành phần kinh tế khác để cùng thành lập doanh nghiệp. Hình thức này mở ra cơ chế linh hoạt, thay vì chỉ bó hẹp trong mô hình doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ toàn bộ vốn như trước đây."

Không chỉ mở rộng cách thức đầu tư, Luật số 68/2025 còn làm rõ hơn thẩm quyền quyết định đầu tư vốn. Theo đó, Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước với quy mô trên 30.000 tỷ đồng. Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đối với khoản bổ sung vốn từ lợi nhuận sau thuế được để lại từ 5.000 tỷ đến 30.000 tỷ đồng. Các trường hợp còn lại được phân cấp mạnh hơn cho cơ quan đại diện chủ sở hữu và cho doanh nghiệp. Đi cùng với phân cấp là cơ chế giám sát mới. Nếu trước đây việc kiểm tra, giám sát thiên về đúng quy trình, đúng thủ tục, thì nay yêu cầu được đặt ra là phải nhìn vào kết quả cuối cùng, tức hiệu quả sử dụng vốn, mức độ hoàn thành nhiệm vụ và năng lực điều hành thực tế. Tinh thần này được cụ thể hóa tại Nghị định số 366 về quản lý và đầu tư vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, cũng như Nghị định số 365 về giám sát, kiểm tra, đánh giá, xếp loại, báo cáo và công khai thông tin trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Hoàng - Trưởng phòng Nghiệp vụ 2, Cục Phát triển doanh nghiệp Nhà nước, nhấn mạnh: "Nghị định đã quy định rất rõ nội dung giám sát, kiểm tra đối với doanh nghiệp và người đại diện. Trong đó, việc giám sát đầu tư bổ sung vốn Nhà nước là nội dung xuyên suốt và quan trọng hàng đầu. Khi chúng ta đã thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, thì vai trò của chủ sở hữu chính là tăng cường giám sát công tác quản lý vốn này. Điểm cốt lõi của Luật 68 là chuyển từ quản lý theo quy trình sang quản lý theo kết quả. Thay vì chỉ cần thực hiện đúng quy trình là đủ, kết quả cuối cùng nay được đánh giá dựa trên mức độ hoàn thành nhiệm vụ và hiệu quả sử dụng vốn. Yêu cầu đặt ra là hiệu quả phải không ngừng được nâng cao. Cơ chế này mở ra không gian để cơ quan chủ sở hữu và người đại diện thể hiện rõ năng lực, bản lĩnh quản lý của mình."

Một điểm nghẽn khác lâu nay trong sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước là câu chuyện đất đai. Thực tế cho thấy, không ít phương án cổ phần hóa, thoái vốn bị kéo dài vì vướng quy trình xử lý nhà, đất. Mới đây, Nghị định số 57/2026 về cơ cấu lại vốn Nhà nước tại doanh nghiệp tiếp tục cụ thể hóa Luật số 68, trong đó tập trung tháo gỡ chính điểm nghẽn này. Quy định mới đã thay đổi cách tiếp cận trong xử lý đất đai khi cổ phần hóa, theo hướng đơn giản thủ tục nhưng vẫn giữ nguyên tắc quản lý chặt tài sản Nhà nước. Ông Trần Hải An - Trưởng phòng Sắp xếp và Đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, Cục Phát triển Doanh nghiệp Nhà nước, nêu việc xử lý đất đai và tài sản khi chuyển đổi sở hữu: "Theo Nghị định 57, quy định về việc doanh nghiệp phải lập phương án sử dụng đất khi cổ phần hóa đã chính thức được bãi bỏ. Điều này đồng bộ với pháp luật về quản lý tài sản công khi cũng không còn yêu cầu doanh nghiệp phải thực hiện sắp xếp, xử lý nhà đất theo quy trình cũ. Thay vì những thủ tục rườm rà như trước, hiện nay các doanh nghiệp khi cổ phần hóa chỉ cần lập Bảng kê hiện trạng sử dụng đất và các cơ sở nhà đất. Bảng kê này tập trung vào các thông tin cốt lõi như: danh mục, diện tích, mục đích sử dụng hiện tại, hình thức giao đất hoặc thuê đất, thời hạn thuê và phương thức trả tiền. Sự thay đổi này giúp đơn giản hóa hồ sơ nhưng vẫn đảm bảo tính minh bạch và chính xác về dữ liệu đất đai."

Từ Luật số 68/2025 đến các nghị định hướng dẫn, có thể thấy cách tiếp cận chung là mở rộng quyền chủ động nhưng không buông lỏng quản lý; phân cấp rõ hơn nhưng cũng ràng buộc trách nhiệm chặt hơn; tạo không gian cho doanh nghiệp vận hành theo thị trường, song vẫn bảo đảm kiểm soát hiệu quả đồng vốn Nhà nước. Một điểm quan trọng khác là các quy định mới đã tiếp tục tách bạch rõ hơn giữa chức năng quản lý Nhà nước, chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước và chức năng quản trị, điều hành của doanh nghiệp. Khi ranh giới trách nhiệm được xác lập rõ, doanh nghiệp sẽ có điều kiện chủ động hơn trong quyết định đầu tư, sản xuất, kinh doanh; còn cơ quan quản lý tập trung vào thiết lập khuôn khổ, giám sát và đánh giá hiệu quả.

Kỳ vọng đặt ra là, với Luật số 68 và các nghị định hướng dẫn thi hành, nguồn lực của doanh nghiệp Nhà nước sẽ được khơi thông mạnh hơn; vốn Nhà nước sẽ được đầu tư đúng chỗ, quản lý chặt hơn và phát huy hiệu quả cao hơn; qua đó để khu vực kinh tế Nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, đồng thời tạo sức lan tỏa, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.

Bài viết hay? Hãy đánh giá bài viết

  • Quan tâm nhiều nhất
  • Mới nhất

15 trả lời

15 trả lời