
81 năm trước, trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho đất nước. Từ thời khắc lịch sử ấy, dân tộc Việt Nam bước vào hành trình mới: Xây dựng chính quyền nhân dân, bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước vững vàng tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nhìn lại chặng đường 81 năm qua, điều có ý nghĩa không chỉ là nhớ về một thắng lợi lịch sử, mà quan trọng hơn là nhận diện sức mạnh đã làm nên thắng lợi, những thành tựu được tạo dựng từ thắng lợi ấy và trách nhiệm của thế hệ hôm nay trong việc tiếp tục đưa đất nước tiến lên.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 diễn ra trong một bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có nhiều khúc quanh đặc biệt. Chiến tranh thế giới thứ hai đi đến hồi kết; Nhật Bản đầu hàng Đồng minh; bộ máy cai trị của Nhật ở Đông Dương rơi vào khủng hoảng. Ở trong nước, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn sau nạn đói 1944-1945.
Trong khoảng trống quyền lực và sự chuyển động nhanh chóng của tình hình quốc tế, lực lượng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động nắm bắt thời cơ, phát động quần chúng giành chính quyền. Nhưng nếu chỉ giải thích thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám bằng một “khoảng trống quyền lực” thì chưa đủ. Những nghiên cứu quốc tế về Cách mạng Tháng Tám cho thấy đây là một quá trình phức tạp, trong đó yếu tố quốc tế, sự chuẩn bị trong nước, năng lực tổ chức lực lượng và khả năng nắm bắt thời cơ đan xen với nhau.
Video: Hồi ức mùa thu lịch sử 1945
(Video tư liệu của Cơ quan Báo và PTTH Hà Nội)
Nhà sử học Mỹ David G. Marr, trong công trình Vietnam 1945: The Quest for Power, đặt cuộc cách mạng trong một cuộc cạnh tranh quyền lực nhiều phía giữa Nhật Bản, Pháp, Mỹ, Trung Quốc và các lực lượng chính trị Việt Nam. Ông đặc biệt nhấn mạnh khả năng lực lượng cách mạng nhận diện “động lực chiến lược” của tình thế năm 1945 và nhanh chóng giành thế chủ động.
Với nhà sử học Pháp Alain Ruscio, thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của sự chuẩn bị và đấu tranh kiên trì. Đặc biệt, Alain Ruscio bác bỏ quan điểm cho rằng chiến thắng là "sự tình cờ", đồng thời khẳng định, thành công này là minh chứng cho sự chuẩn bị chu đáo, lâu dài của Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) và Chủ tịch Hồ Chí Minh để chớp thời cơ, dẫn đến cuộc Tổng khởi nghĩa. Coi Việt Nam là biểu tượng của ý chí kiên cường, khát vọng thống nhất và vươn lên của một dân tộc, nhà sử học Pháp cũng nhiều lần cho rằng, thành công của Cách mạng Tháng Tám tạo một "bước phát triển nhảy vọt về chất" trong lịch sử Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong khi đó, Giáo sư - Tiến sĩ Vladimir Kolotov, Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh thuộc Đại học Tổng hợp quốc gia Saint Petersburg (Liên bang Nga) ca ngợi: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích kỹ lưỡng các cuộc cách mạng trên toàn cầu và khéo léo vận dụng chủ nghĩa quốc tế vào tình hình thực tiễn Việt Nam để đạt được thành công lớn năm 1945, dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là nền tảng cho con đường giải phóng dân tộc toàn diện.
Cũng theo Giáo sư V.Kolotov, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ là một thành tựu lịch sử vĩ đại của Việt Nam, mà còn là một minh chứng sống động cho khả năng thích ứng tư tưởng cách mạng với thực tiễn dân tộc. Sự lãnh đạo tỉnh táo của Đảng Cộng sản, tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khả năng huy động quần chúng nhân dân chính là những yếu tố quyết định đưa cách mạng đến thành công.
Chia sẻ quan điểm về tính chính danh của Cách mạng Tháng Tám, Giáo sư Furuta Motoo, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Việt - Nhật và là học giả Nhật Bản nổi tiếng với các nghiên cứu về Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn 1945, nhận định: “Theo tôi, Cách mạng Tháng Tám có 3 đặc điểm. Thứ nhất, là thời điểm thuận lợi. Thứ hai, là thu hút được sức mạnh quần chúng và thứ ba là diễn ra trên toàn quốc. Ba đặc điểm này đã mang đến tính chính danh mạnh mẽ cho con đường tiếp theo của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bằng chứng là chính quyền khởi nguồn từ Cách mạng Tháng Tám đã tồn tại và vững mạnh từ đó đến nay”.
Có thể thấy, điểm đáng chú ý trong nghiên cứu của các học giả nước ngoài là họ không nhìn Cách mạng Tháng Tám như một sự kiện biệt lập của vài tuần tháng Tám năm 1945. Đằng sau thắng lợi ấy là một quá trình chuẩn bị lâu dài về đường lối, tổ chức, lực lượng chính trị và khả năng vận động quần chúng của Đảng thông qua Mặt trận Việt Minh. Chính vì thế, giá trị lớn nhất của Cách mạng Tháng Tám không chỉ nằm ở kết quả giành chính quyền. Đó còn là bài học về ý chí độc lập, sức mạnh đại đoàn kết, năng lực tổ chức và nghệ thuật nắm bắt thời cơ.

Kết quả là ngày 19-8-1945, Hà Nội giành chính quyền. Ngày 25-8, Sài Gòn giành chính quyền. Ngày 2-9, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
Không những vậy, trong bản Tuyên ngôn Độc lập, tư tưởng về quyền con người, quyền dân tộc và quyền sống trong tự do, độc lập được đặt trong một chỉnh thể vừa mang tính dân tộc, vừa có ý nghĩa phổ quát. Độc lập vì thế không phải là điểm kết thúc của một cuộc cách mạng, mà là điểm khởi đầu của một sự nghiệp lâu dài: Xây dựng một quốc gia độc lập, thống nhất, phát triển và đem lại cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn cho nhân dân.
Từ mùa Thu năm 1945, dân tộc Việt Nam bước vào một cuộc hành trình chưa từng đơn giản. Đó là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, sau đó là công cuộc Đổi mới, hội nhập, xây dựng và phát triển. Nhìn từ lăng kính quốc tế với nhiều diễn biến phức tạp và thuận lợi đan xen như ngày hôm nay, càng thấy rõ một điều: Giành được chính quyền đã khó, giữ vững nền độc lập và biến độc lập thành sức mạnh phát triển còn khó hơn nhiều. Nhưng bằng bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần trách nhiệm, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nhìn lại chặng đường 81 năm, nhất là 40 năm Đổi mới, chúng ta có quyền tự hào về tầm vóc cơ đồ mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã tạo dựng. Từ một đất nước kiệt quệ bởi chiến tranh, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển thuộc nhóm thu nhập trung bình cao, hội nhập sâu rộng; quốc phòng, an ninh được củng cố; vị thế quốc tế ngày càng nâng cao. Những thành tựu đó là kết tinh của sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, trí tuệ, công sức và xương máu của nhiều thế hệ. Nhận thức đúng điều đó để càng trân trọng sự kế thừa, giữ gìn đoàn kết, thống nhất và không coi thành tựu chung là công lao riêng của thế hệ nào. Nhìn từ bên ngoài, nhiều học giả và chính khách quốc tế đánh giá cao sự chuyển biến ấy.
Nhân kỷ niệm 80 năm Quốc khánh năm 2025, nhà nghiên cứu Đông Nam Á Lamijo thuộc Cơ quan Nghiên cứu và Đổi mới Quốc gia Indonesia nhận định GDP Việt Nam đã tăng khoảng 60 lần kể từ đầu thời kỳ cải cách, lên hơn 476 tỷ USD năm 2024 (năm 2025 đạt khoảng 514 tỷ USD, tăng trưởng 8,02% - PV); tăng trưởng bình quân khoảng 6% mỗi năm và riêng năm 2024 đạt 7,09%, là một trong những nước đạt mức tăng trưởng cao nhất thế giới. Đặc biệt, tỷ lệ nghèo ở Việt Nam cũng đã giảm mạnh xuống dưới 3% nhờ mức thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể, đạt khoảng 4.500 USD trong giai đoạn 2023-2024. Ông cho rằng, sự ổn định chính trị, tầm nhìn chiến lược và quyết tâm cải cách giúp Việt Nam tạo ra một quá trình phát triển có khả năng truyền cảm hứng trong ASEAN.
Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Mariam J.Sherman đánh giá, kể từ Đổi mới năm 1986, Việt Nam đã tạo nên “một trong những câu chuyện phát triển ấn tượng nhất thế giới”. Theo bà, tỷ lệ dân số sống trong nghèo cùng cực đã giảm từ hơn một nửa vào cuối thập niên 1980 xuống dưới 1%; thu nhập bình quân đầu người tăng gấp 6 lần và tuổi thọ tăng thêm 7 năm so với đầu thập niên 1990.

Cựu Thủ tướng Israel Ehud Barak gọi Việt Nam là một “câu chuyện thành công điển hình về phát triển”, đồng thời nhấn mạnh Đổi mới năm 1986 là bước ngoặt thể hiện tinh thần cải cách và khát vọng vươn lên của Việt Nam.
Giáo sư Ignacio Bartesaghi, Giám đốc Viện Thương mại Quốc tế thuộc Đại học Công giáo Uruguay, đánh giá sự phát triển hạ tầng, thu hút FDI và quá trình mở rộng năng lực xuất khẩu đã góp phần thay đổi diện mạo Việt Nam, từ một nền nông nghiệp truyền thống trở thành một nền kinh tế mới nổi có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ.
Những nhận xét ấy đáng chú ý không chỉ bởi chúng đến từ bên ngoài Việt Nam, quan trọng hơn, chúng cho thấy những biến đổi của Việt Nam đã trở thành một đối tượng được quan sát, nghiên cứu và đánh giá trong đời sống quốc tế. Những đánh giá ấy cũng có một điểm chung: Việt Nam đã không chỉ vượt qua chiến tranh mà còn biết biến những thành quả của hòa bình, cải cách và hội nhập thành động lực phát triển. Đó chính là cơ đồ được tạo dựng qua nhiều thế hệ. Nhưng cơ đồ không phải là khái niệm để tự hài lòng. Cơ đồ càng vững thì yêu cầu phát triển càng cao. Vị thế càng được nâng lên thì trách nhiệm càng lớn.
Từ một nước nghèo, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế trong top 34 của thế giới và có quy mô lớn hơn, năng lực sản xuất và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Đặc biệt, trong công bố ngày 1-7-2026, cập nhật phân loại thu nhập quốc gia của Ngân hàng Thế giới (WB) nâng phân loại của Việt Nam từ nhóm thu nhập trung bình thấp - vị trí duy trì từ năm 2009 - lên thu nhập trung bình cao là một thành tựu không thể phủ nhận. Từ một quốc gia bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia trên thế giới, tham gia ngày càng tích cực vào các thể chế đa phương. Việt Nam đã trở thành thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, có đóng góp vào hòa bình, ổn định và phát triển toàn cầu.
Mặt khác, giá trị của 81 năm Độc lập vì thế không chỉ nằm ở những gì đã đạt được, mà còn nằm ở năng lực tự đổi mới của Đảng để thích ứng với mỗi thời kỳ lịch sử. Cách mạng Tháng Tám đã tạo ra bước ngoặt về chính trị. Thống nhất đất nước tạo ra điều kiện căn bản để cả dân tộc cùng đi trên một con đường phát triển. Đổi mới mở ra không gian phát triển mới. Hội nhập quốc tế mở rộng không gian kinh tế và đối ngoại. Và hôm nay, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đang trở thành những động lực mới.

Không còn con đường nào khác, khoảng thời gian 5-10 năm tới chính là giai đoạn bản lề có ý nghĩa quyết định đối với hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước. Trong khoảng thời gian không dài này, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta vừa phải hoàn thành các mục tiêu của chặng đường 5 năm 2026-2030, vừa tạo nền tảng vững chắc để vươn tới các mốc phát triển cao hơn vào năm 2045. Mục tiêu đến năm 2030 là đưa nước ta trở thành quốc gia có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Điều đó đòi hỏi nền kinh tế liên tục trong nhiều năm phải tăng trưởng bình quân 10%/năm hoặc cao hơn - một tốc độ đột phá chưa từng có, nhưng là mục tiêu hoàn toàn có cơ sở khi chúng ta biết phát huy tối đa các nguồn lực. Đến năm 2045, chúng ta phải thực hiện cho bằng được mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phát triển, thu nhập cao, ngang tầm thế giới…
Để đạt mục tiêu thì những bài học thành công từ cuộc cách mạng 81 năm về trước vẫn vẹn nguyên giá trị, đồng thời là hành trang để chúng ta tự tin tiếp nối hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã dày công dựng xây.

Nếu Cách mạng Tháng Tám là cuộc vận động sức mạnh của cả dân tộc thì Hà Nội là địa bàn có ý nghĩa quyết định trong thắng lợi ấy. Ngày 19-8-1945, nhân dân Hà Nội giành chính quyền. Quảng trường Nhà hát Lớn, Bắc Bộ phủ và những đường phố của Hà Nội trở thành những địa danh gắn với thời khắc lịch sử mở đầu kỷ nguyên độc lập của dân tộc Việt Nam. Nhưng vai trò của Hà Nội không dừng lại ở mùa Thu năm 1945.
Ngay sau khi trở về tiếp quản Thủ đô năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Cả nước nhìn về Thủ đô ta. Thế giới trông vào Thủ đô ta. Tất cả chúng ta phải ra sức giữ gìn trật tự an ninh, làm cho Thủ đô ta thành một Thủ đô bình yên, tươi đẹp, mạnh khỏe cả về vật chất và tinh thần”. Đó không chỉ là lời căn dặn thông thường mà còn là một yêu cầu về trách nhiệm nêu gương của Thủ đô đối với cả nước.

Thực tiễn đã chứng minh, hơn 70 năm qua, thực hiện lời dạy của Người, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hà Nội đã cơ bản làm tốt và làm rất tốt. Hà Nội từng bước khẳng định vị thế cực tăng trưởng hàng đầu của cả nước. Bước vào năm 2026, yêu cầu ấy được đặt ra ở một tầm cao mới: Tăng trưởng GRDP đạt 11% trở lên và không chỉ duy trì tăng trưởng mà phải tạo ra một mô hình tăng trưởng mới, có tốc độ cao hơn, chất lượng và bền vững hơn. Mục tiêu tăng trưởng 11% không chỉ là bài toán kinh tế. Sâu xa hơn, đó là phép thử về năng lực quản trị, khả năng tổ chức thực hiện và tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cả hệ thống chính trị thành phố. Hà Nội sẽ phải triển khai thật tốt các Nghị quyết chiến lược của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị gắn với “bộ 3 chiến lược” của Hà Nội, gồm: Nghị quyết số 02-NQ/TW, ngày 17-3-2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới, Luật Thủ đô năm 2026 và Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm; nhiệm vụ, giải pháp giải quyết các điểm nghẽn và thực hiện mục tiêu phát triển 100 năm của Thủ đô Hà Nội.
Trong bối cảnh đó, 6 tháng đầu năm 2026, Hà Nội đang có nền tảng tích cực khi GRDP tăng 8,22% so với cùng kỳ năm 2025, cao hơn mức tăng trưởng chung của cả nước. Tinh thần “gương mẫu đi đầu” được thể hiện không phải bằng khẩu hiệu, mà bằng hành động cụ thể. Hình ảnh các đồng chí Bí thư Thành ủy, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố… vào ngày nghỉ trực tiếp đi kiểm tra các công trường, dự án; đưa ra những chỉ lệnh sát thực tiễn, tháo gỡ khó khăn cho cơ sở, doanh nghiệp phát đi một thông điệp rằng: Những vấn đề của thực tiễn không thể kéo dài mãi trong những câu “đang nghiên cứu”, “đang phối hợp”, “đang xử lý”... Điều quan trọng nhất sau mỗi chuyến kiểm tra không phải là một dự án cụ thể được tăng tốc, mà là làn sóng trách nhiệm đã từng bước lan tỏa vào toàn bộ hệ thống chính trị của Thủ đô với tinh thần “Hà Nội đã nói là làm - làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng”.
Nhưng để đạt mục tiêu 11%, Hà Nội không thể chỉ trông chờ vào những dự án lớn ở cấp thành phố, vào sự rốt ráo từ cấp sở, ban, ngành. Sức bật của Thủ đô phải được tạo ra từ từng xã, phường, từng công trường, từng doanh nghiệp và từng người dân. Đây chính là điểm khác biệt của giai đoạn phát triển mới. Từ những công trường đang tăng tốc đến những xã, phường đang đổi mới cách phục vụ nhân dân; từ những dự án hạ tầng lớn đến từng thủ tục hành chính được giải quyết nhanh hơn; từ các trung tâm nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ đến những cơ sở sản xuất đang chuyển đổi mô hình…, ánh sáng của mùa Thu 1945 đang được tiếp nối bằng những hành động cụ thể của hôm nay.
Video: Hà Nội ngọn cờ tiên phong
(Video tư liệu của Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội)
Điều đáng mừng là chỉ trong thời gian ngắn vừa qua, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhiều lần trực tiếp làm việc với cán bộ chủ chốt thành phố Hà Nội. Tại mỗi cuộc làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã khai mở nhiều gợi ý, hướng đi để xây dựng Hà Nội “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, “làm cho Thủ đô ta thành một Thủ đô bình yên, tươi đẹp, mạnh khỏe cả về vật chất và tinh thần” như chỉ dạy của Bác Hồ lúc sinh thời.
Gần đây nhất, phát biểu trong cuộc làm việc vào chiều 8-7-2026 với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ghi nhận, trong bối cảnh phải đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ lớn về phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, sắp xếp tổ chức bộ máy và tổ chức lại không gian phát triển, Hà Nội đã thể hiện tinh thần chủ động, quyết liệt, tạo được nhiều chuyển biến tích cực. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, 6 tháng đầu năm 2026, Hà Nội đã đạt được 5 kết quả nổi bật, gồm: Giữ vững đà tăng trưởng, tạo nền tảng hoàn thành mục tiêu phát triển cao hơn trong cả năm; công tác thể chế, quy hoạch và xác lập mô hình phát triển mới có nhiều bước tiến quan trọng; cải cách hành chính, chuyển đổi số và đổi mới phương thức quản trị đạt nhiều kết quả tích cực; đầu tư phát triển, quy hoạch hạ tầng đô thị được thúc đẩy với quyết tâm và quy mô lớn hơn; các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh tiếp tục được quan tâm.
Đồng thời, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng nêu ra các nhóm nhiệm vụ Hà Nội cần phải thực hiện tốt thời gian tới. Đó là: Xác định mục tiêu tăng trưởng hai con số là nhiệm vụ chính trị quan trọng, đồng thời phải xây dựng lại kịch bản tăng trưởng theo hướng tích cực, cụ thể đến từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương và từng cấp chính quyền. Hà Nội cũng cần giải phóng mọi nguồn lực đang bị ách tắc; đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng; phát huy mạnh mẽ vai trò của khu vực dịch vụ, thương mại, du lịch và tiêu dùng; đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng; tập trung giải quyết các vấn đề dân sinh bức thiết; tăng cường liên kết vùng và phối hợp với các bộ, ngành Trung ương.

Từ các chủ trương, chính sách đột phá và nền tảng đã được tạo dựng, vấn đề đặt ra với Hà Nội hiện nay là tập trung để tổ chức thực hiện có hiệu quả và đạt được các mục tiêu đề ra. Thành phố đã và đang tập trung thực hiện 7 nhiệm vụ chính:
Thứ nhất, tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo, khắc phục khâu yếu nhất là tổ chức thực hiện.
Thứ hai, thành phố đang tập trung chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Theo đó, thành phố xây dựng đề án mô hình tăng trưởng mới với ba chuyển dịch căn bản là: Từ tăng trưởng dựa nhiều vào nguồn vốn sang dựa nhiều hơn vào năng suất lao động; từ đầu tư công trực tiếp sang đầu tư công thực hiện nhiệm vụ dẫn dắt và kích hoạt nguồn vốn tư nhân; từ các ngành truyền thống sang những ngành dựa trên tri thức, công nghệ và có giá trị gia tăng cao hơn.
Thứ ba, thành phố tập trung triển khai 6 nhóm dự án lớn có tính động lực, định hình không gian phát triển của Thủ đô và kết nối vùng. Cụ thể là Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng; Dự án Khu đô thị thể thao quốc tế Hà Nội; đầu tư phát triển hệ thống đường sắt đô thị; phát triển chùm đô thị khoa học, văn hóa; phát triển các khu đô thị đa mục tiêu; hoàn thành các tuyến đường vành đai, công trình cầu vượt sông.
Thứ tư, phát huy thế mạnh của trung tâm khoa học, công nghệ và văn hóa của cả nước.
Thứ năm, thành phố đang thực hiện hiệu quả các vấn đề an sinh để nhân dân được thụ hưởng từ thành quả phát triển.
Thứ sáu, thành phố thí điểm các mô hình mới. Trong đó, thành phố đang thực hiện thí điểm xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa tại hai xã Phúc Thịnh và Thư Lâm. Thông qua việc thí điểm, thành phố sẽ đúc rút kinh nghiệm, đánh giá, nhân rộng cho các xã, phường khác trên địa bàn Thủ đô.
Thứ bảy, thành phố đang tập trung nguồn lực giải quyết hiệu quả 5 điểm nghẽn là: Ùn tắc giao thông, úng ngập, ô nhiễm môi trường, trật tự đô thị và an toàn thực phẩm.
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội Trần Đức Thắng
Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của những chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Thành ủy Hà Nội thời gian qua đã khẩn trương ban hành kế hoạch, cụ thể hóa những công việc cụ thể gắn với phân công rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, lộ trình thực hiện. Trong đó đã xác định phải tạo bước đột phá từ đổi mới mạnh mẽ tư duy về thể chế phát triển, mô hình quản trị đô thị hiện đại và phương thức tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển hệ thống hạ tầng hiện đại, thông minh và kết nối.
Ngoài ra, với “mật lệnh” phải là “ngọn hải đăng” trong kỷ nguyên mới, Hà Nội đã xác định rõ vai trò là động lực, đầu tàu tăng trưởng kinh tế của cả nước, là hạt nhân có tính chất lan tỏa của khu vực Bắc Bộ trên hầu hết các lĩnh vực, thành phố sẽ quyết liệt tái thiết không gian phát triển theo hướng mở, đa trung tâm và tích hợp Vùng, vượt qua giới hạn của mô hình đô thị truyền thống để Thủ đô dẫn dắt phát triển khu vực phía Bắc và cả nước. Nâng cao năng lực cạnh tranh với Thủ đô các nước; trở thành thành phố lớn toàn cầu về thu hút chất xám, đổi mới sáng tạo và tầm ảnh hưởng về kinh tế - văn hóa - xã hội cũng như môi trường sinh sống, học tập và làm việc, xứng tầm, đúng vị thế, tiềm năng theo Nghị quyết số 15-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Cùng với đó, cấp ủy tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên phải đổi mới tư duy, tập trung phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa chủ lực; đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực; tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ, phát triển hạ tầng văn hóa và thể thao; thu hút, hỗ trợ đầu tư; mở rộng giao lưu, hợp tác trong nước và quốc tế về văn hóa; tập trung xây dựng, phát triển, định vị thương hiệu "Thành phố sáng tạo" của UNESCO. Xây dựng con người Hà Nội trong kỷ nguyên mới; kết hợp nhuần nhuyễn giá trị truyền thống với giá trị thời đại. Giữ gìn, phát huy tinh hoa văn hóa, nâng cao nhận thức, thúc đẩy mạnh mẽ việc xây dựng, thực hiện giá trị, chuẩn mực, đặc trưng người Hà Nội thanh lịch, văn minh trong thời kỳ mới, coi đây là nguồn lực, động lực quan trọng trong chiến lược phát triển Thủ đô “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại”.
***
81 năm kể từ mùa Thu Độc lập, chúng ta có quyền tự hào về một Nhà nước được sinh ra từ ý chí và khát vọng của nhân dân. Thủ đô Hà Nội, nơi hồn thiêng sông núi, rất vinh dự tự hào vì đã tiên phong, gương mẫu đi đầu trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945; tiếp tục lập nhiều kỳ tích trong 81 năm dựng xây chế độ dân chủ nhân dân. Trên tiền đề hào quang lịch sử, Thủ đô Hà Nội chắc chắn còn tỏa sáng thêm nhiều giá trị truyền thống văn hiến, anh hùng, hào hoa, làm hồn cốt tạo nên nhiều giá trị văn hóa lịch sử chính trị trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Chỉ đạo nội dung: Nguyễn Văn Bình
Thực hiện: Đan Nhiễm
Thiết kế: Thanh Nga
