Người trẻ và hành trình của giấy dó
Người Hà NộiTrong dòng chảy đương đại, vẫn có những người trẻ say mê với vật liệu giấy dó truyền thống để tạo ra những sản phẩm độc đáo.
Với khát khao gìn giữ "hơi thở" của the lụa từng vang danh, nghệ nhân Lê Đăng Toản (Hà Đông) đã miệt mài canh cửi trong suốt gần 20 năm, dù hành trình không ít gian nan.
Làng nghề La Khê đã từng rất nổi danh khắp chốn với một sản phẩm dệt độc đáo, đó là vải the. "The" có nghĩa là "thưa", đồng nghĩa với việc loại vải này cần có cách dệt đặc biệt để làm sao các sợi vải không sít vào nhau, nhưng khi giặt, phơi lại không bị xô giạt, không co ngót dồn sợi và khi thiết kế thành các sản phẩm thì vẫn giữ được phom dáng. Điều đặc biệt là trang phục thiết kế từ loại vải này có được sự thoáng mát vào mùa hè, ôn ấm vào mùa đông và cũng dễ dàng nổi lên được những vân hoa đẹp mắt.
Sinh ra ở quê hương của "the" nhưng nghệ nhân Lê Đăng Toản có một tuổi thơ chẳng còn được nhìn thấy bóng dáng của loại vải đó hay ai đó trong làng duy trì nghề dệt này. Lớn lên mưu sinh với đủ thứ nghề, nhưng có lẽ đã được "tổ nghề" chọn khi anh có duyên với nghề dệt bắt đầu bằng công việc đi sửa chữa máy dệt.
Đến năm 2003, khi có chính sách khôi phục làng nghề La Khê, anh Toản đã xung phong là một trong những người trẻ đầu tiên tham gia vào lớp học nghề từ số ít những nghệ nhân già còn nhớ nghề trong làng. Với những hiểu biết về máy dệt, nguyên tắc dệt, anh Lê Đăng Toản nhanh chóng tiếp thu được tinh hoa của nghề dệt the và còn dựng lại được cả khung dệt cổ, tự cải tiến được thành khung bán thủ công. La Khê đã có một hợp tác xã dệt - nơi mọi người chung tay đưa tiếng thoi trở lại.
Tuy nhiên, với đặc điểm rất "khó tính", loại vải the này cũng gây rất nhiều khó khăn cho những người thợ hợp tác xã. Những sản phẩm ban đầu với nhiều thử nghiệm thất bại, hỏng hóc và cũng không đáp ứng được nhu cầu thị trường lúc bấy giờ. Với vài năm tồn tại ngắn ngủi, hợp tác xã đã phải giải thể, máy móc lưu kho.
Tình yêu với the lụa của quê hương đã nhóm lên nơi anh Lê Đăng Toản không thể kết thúc ở đó. Khi tất cả đã từ bỏ, anh vẫn đau đáu với nghề và quyết tâm dù chỉ có một mình cũng phải khôi phục nghề. Anh xin hợp tác xã những khung dệt cũ và tự dựng lại, tự mày mò nghiên cứu để khôi phục thành công được các dòng vải the/sa cổ đã thất truyền nhiều thập kỷ. Có những loại vải bắt buộc phải dệt thủ công hoàn toàn và đến nay vẫn chỉ có mình anh Toản có thể dệt được.
Dù hiện giờ duy trì xưởng dệt duy nhất của La Khê, nghệ nhân Lê Đăng Toản vẫn không ngừng cố gắng. Anh vẫn đang tiếp tục để có những sáng tạo trên hoa văn và kết hợp với các nhà thiết kế để đưa vải the lên các sản phẩm đương đại, đưa hơi thở của the/sa La Khê gần hơn với đời sống.
Trong dòng chảy đương đại, vẫn có những người trẻ say mê với vật liệu giấy dó truyền thống để tạo ra những sản phẩm độc đáo.
Nghệ nhân Nguyễn Viết Dũng sinh ra ở làng nghề Sơn Đồng (Hoài Đức, Hà Nội), được theo chân cha chạm khắc đồ thờ từ khi còn thơ ấu, qua đó bị hấp dẫn và ấn tượng với những họa tiết hoa văn cổ.
Với tâm huyết gìn giữ giá trị truyền thống, nghệ nhân Vũ Văn Giỏi đã góp phần hồi sinh nghệ thuật thêu trang phục cung đình tưởng chừng đã mai một.
Nghệ nhân Lê Bá Chung (Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội) là một trong những người vực dậy làng nghề quỳ vàng duy nhất của cả nước, khôi phục nghề sơn son dát vàng sau hơn 50 năm bị mai một.
Nghệ nhân Đào Anh Tuấn kế thừa tài năng của cha mình, nghệ nhân ưu tú Đào Văn Soạn, người làm đàn nổi tiếng ở làng nghề làm nhạc cụ dân tộc truyền thống Đào Xá.
Từ khoá
Kể từ ngày người Hà Nội đi mở đất ở thung lũng Nam Ban bên dòng Đạ Dâng ngàn vạn năm tuổi đã được 50 năm. Tròn 5 thập kỷ thành lập Vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng (1976-2026) cũng là ngần ấy năm cái tên “Lâm Hà” từng bước được định hình rồi trở thành nỗi nhớ, niềm xúc động về một biểu tượng cho tình đoàn kết gắn bó giữa Đảng bộ, nhân dân Thủ đô Hà Nội và tỉnh Lâm Đồng.
Nếu như rối nước mượn sức đẩy và sự biến ảo của làn nước để làm sân khấu, thì rối cạn lại thách thức người nghệ sĩ bằng sự đa dạng trong cách thức biểu đạt.
Bước vào kỷ nguyên mới, những giá trị truyền thống đang đứng trước yêu cầu được tiếp nối bằng tư duy mới, chuẩn mực mới và sức sáng tạo mới. Xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh vì thế không chỉ là gìn giữ bản sắc, mà còn là quá trình khơi thông nguồn lực văn hóa, phát huy sức mạnh con người, tạo động lực để Thủ đô phát triển hiện đại, bền vững và hội nhập.
Trong đời sống của người Hà Nội, chén trà không chỉ là một thức uống. Trà hiện diện trong những cuộc gặp gỡ, trong các sự kiện ngoại giao và trong nếp sinh hoạt của mỗi gia đình. Từ cách chọn trà, pha trà đến cách nâng chén, mời nhau, mỗi cử chỉ đều chứa đựng những giá trị văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Từ quả đu đủ xanh mộc mạc, người Hà Thành xưa đã sáng tạo nên một nghệ thuật vô cùng tinh tế: Tỉa hoa đu đủ chẻ cánh. Giữa nhịp sống hiện đại, nét tinh hoa ấy vẫn đang được gìn giữ và thổi vào một sức sống mới, nhờ đôi bàn tay tài hoa của nghệ nhân. Một trong số những người nghệ nhân thổi hồn hiện đại vào nét hoa chẻ cánh cổ truyền là chị Nguyễn Thị Thu.
Mỗi độ hè về, khi những đầm sen ở hồ Tây bắt đầu khoe sắc cũng là lúc mùa trà sen Hà Nội bước vào thời điểm nhộn nhịp nhất trong năm. Từ những bông sen còn ngậm sương sớm, qua bàn tay khéo léo của người làm nghề, hương sen thanh khiết được ướp vào từng cánh trà, tạo nên một thức quà tinh tế đã trở thành nét văn hóa đặc trưng của người Hà Nội.