Giải mã bí ẩn chùa Bối Khê - Tập 1 | Di sản kể chuyện | 07/09/2025
Chương trình chuyên đềGiữa lòng đồng bằng sông Hồng - nơi các giá trị văn hóa lâu đời tích tụ, tồn tại một ngôi chùa cổ đã hơn 700 năm tuổi, đó là chùa Bối Khê.
Làng Hương Canh (Thị Cấm) nằm trên con đường nối trung tâm Hà Nội với Sơn Tây - nơi vùng đất xứ Đoài mây trắng dưới chân núi Tản Viên, gắn với huyền tích Sơn Tinh - Thủy Tinh, cùng vị tướng Phan Tây Nhạc - người đã dạy dân trồng cấy và tạo ra lửa. Dẫu là một huyền tích nhưng ẩn chứa tri thức dân gian về cách tạo lửa trong buổi nguyên sơ.
Giữa lòng đồng bằng sông Hồng - nơi các giá trị văn hóa lâu đời tích tụ, tồn tại một ngôi chùa cổ đã hơn 700 năm tuổi, đó là chùa Bối Khê.
Chùa Bối Khê được coi là một trong những ngôi chùa độc đáo nhất miền Bắc với di sản nghệ thuật thị giác được coi là mẫu mực cùng chứng tích về lịch sử, văn hóa và mỹ thuật. Chùa Bối Khê cũng là ngôi chùa hiếm hoi còn lưu giữ cả ba thành tố di sản với hàm lượng đồ sộ đó là: di sản vật thể, di sản phi vật thể và di sản tư liệu.
Các pho tượng ở chùa Tây Phương được đánh giá là những pho tượng đẹp nhất của nghệ thuật tạc tượng Việt Nam thế kỷ XVIII. Các vị La Hán vẫn đứng, ngồi, đau khổ bi ai cùng trần thế.
Chùa Tây Phương là một công trình kiến trúc độc đáo vào hạng nhất trong các ngôi chùa ở Việt Nam, xứng đáng là “đệ nhất cổ tự” với sự kết hợp giữa phong cách kiến trúc truyền thống và không gian sinh cảnh tự nhiên.
Đền Quán Thánh, một trong “Thăng Long tứ trấn”, không chỉ là nơi thờ tự linh thiêng mà còn là biểu tượng văn hóa, tâm linh trấn giữ phương Bắc kinh thành xưa, gắn liền với niềm tin và bản sắc của người Hà Nội.
Khác với "Quan họ cổ", "Quan họ mới" là lối ca hát trình diễn có đối tượng khán giả thưởng thức. "Quan họ mới" có thể ca hát ở bất cứ thời gian nào, không gian nào, người ca hát Quan họ không phải chỉ là quần chúng không chuyên mà bao gồm cả đội ngũ những nghệ sĩ chuyên nghiệp.
Làng Triều Khúc lưu giữ một điệu múa cổ độc đáo mang tên "con đĩ đánh bồng”, trong đó những người đàn ông hóa trang thành phụ nữ để múa và đánh trống bồng. Được lưu truyền qua hàng trăm năm và trở thành một nét đặc sắc của lễ hội làng, điệu múa đã được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Mục đích ca hát của "Quan họ cổ" chủ yếu là giao lưu tình cảm giữa đôi bên Quan họ kết bạn. Nói một cách khác, các nghệ nhân Quan họ tự hát cho nhau nghe cho nên "Quan họ cổ" có nhiều hình thức ca hát như: hát chúc, hát mừng, hát thờ, hát hội, hát canh… Tuy nhiên, những quy định trong hình thức hát canh vẫn được xem là tiêu biểu, độc đáo nhất trong các hình thức ca hát Quan họ.
Không chỉ đặc biệt về niên đại, Đình Hạ Hiệp còn mang đến những bất ngờ cho giới nghiên cứu về nghệ thuật điêu khắc độc đáo. Mỗi đầu rồng, mỗi thân người, mỗi con vật, mỗi đường dao trên mặt gỗ… dường như đều đang kể một câu chuyện. Và giữa tất cả những hình tượng ấy là con người với những cuộc vui, những sinh hoạt, những khát vọng rất đời thường.
Trên núi Sóc, qua nhiều thế hệ, người dân vẫn thờ Đức Thánh, chuẩn bị lễ phẩm, thực hành nghi lễ và kể lại những câu chuyện về Người. Dấu tích ngày nay vẫn còn lại trong cảnh vật, đền thờ và tư liệu. Ký ức về Gióng còn hiện diện trong Hội Gióng và những phần việc mà mỗi làng vẫn đảm nhận khi mùa hội đến.
Bên hữu ngạn sông Đáy có một ngôi làng mang tên Hạ Hiệp, tên cổ của làng là Kẻ Hiệp. Quá khứ hiện diện trong từng lối làng, từng dòng sông và đặc biệt, trong ngôi đình đã đứng đó qua hàng trăm năm. Người xưa khi dựng đình không chỉ chọn một khoảng đất mà các bậc tiền nhân chọn thế đất, chọn một vị trí để con người có thể đứng giữa đất, trời và cộng đồng làng xã.