Lẩu cua đồng
Ẩm thựcLẩu cua đồng không chỉ đơn thuần là một món ăn, mà còn được ví như một bản hòa ca tuy dung dị nhưng hoàn hảo bởi sự hòa quyện giữa các nguyên liệu.
Trong ký ức tuổi thơ của mỗi người, thường có một hương vị quê nhà, từ cá kho tộ, mùi rơm mới gặt, tiếng mưa rơi trên mái ngói xưa... hay như mùa cua đồng là ký ức khó phai.
Đó là mùa của những cánh đồng ngập nước, của tiếng "dàn hợp xướng" ếch nhái rộn ràng, và của những bữa cơm gia đình ấm áp quanh nồi mắm cua nóng hổi.
Tôi thường ngồi một mình, mơ ước những điều xa vời xong mỉm cười. Rồi lại nhìn ra xa, tưởng tượng cánh đồng nước mênh mông trước nhà màu đục ngầu đang cuồn cuộn chảy. Đám lúa chét rồng rắn cố vươn mình ngoi lên theo con nước bạc.
Bất chợt, tôi nhớ nụ cười “đổ nước nghiêng trời” của ba, giọng nói vọng lại từ chân đồi: "Trời này, độ chừng tháng nữa cua nhiều ghê lắm! Cha con mình tha hồ chấm rau luộc với mắm cua đồng ".
Nước mắt tôi ướt nhòe, òa lên nấc nghẹn. Ngoài kia vẫn là nắng, là gió, là quê. Sáng nay, tôi cảm nhận một chút thu về. Chỉ còn một tháng nữa thôi là sẽ mưa dầm. Những người thường sống bằng quá khứ như tôi, dù có nghẹn ngào nhưng lòng lại nhẹ như không. Một thứ cảm giác khó nói thành lời, như đời những con cua sinh ra trong mưa lũ. Kiếp phù sinh, không hẹn ngày giờ, không định nơi chốn, cứ lang thang cho hết bụi trần.
Mưa rồi! Những con cua đực, cua cái đã trưởng thành, hiếm như “hạt gạo trên sàng” còn sót lại sau nửa năm nắng nóng, khô hạn. Nơi ẩm nhất là cái ao to đầu xóm, bọn chúng ẩn nấp nơi này. Một dải ruộng nhỏ hẹp như cánh tay gầy guộc của người mẹ quê nghèo, cố dang rộng che chở cho những phận người lam lũ. Những trận mưa đầu tiên làm cho mặt ruộng xâm xấp nước. Đám cỏ loe ngoe bắt đầu trỗi dậy từng sợi nhỏ xíu màu xanh nõn rực rỡ. Những gốc rạ cựa mình, đâm lưỡi lá non nhọn hoắt, thẳng đứng lên trời. Bọn cua đực, cua cái trong hốc ao, tận sâu trong lòng đất, nằm im khe, vội vàng bò ra. Con nào cũng ốm nhách, chỉ còn bộ khung và chút hơi thở thoi thóp. Nước về tôi mừng, tụi nó còn mừng hơn. Đêm đến, như nghe tiếng bọn chúng reo hò hòa cùng đám côn trùng, ếch nhái, ễnh ương… tạo thành bản âm thanh rộn rã, náo nhiệt, mà chỉ người quê mới thấy thương. Có lẽ chúng cũng như con người, có cảm xúc. Chúng gặp nhau, kết đôi và sinh sôi mỗi khi đón những trận mưa đầu mùa. Bên ánh đèn khuya, tôi thấy ba đang ngồi trầm tư nhìn ra đồng, lắng nghe “dàn hợp xướng” náo nhiệt ấy. Thứ âm thanh mà có lẽ chỉ khi về già ba tôi mới tận hưởng trọn vẹn. Ngoài đồng, ánh đèn pin rực sáng chập chờn, tiếng rì rầm của vài người đàn ông đi soi cá, soi cua. Trên vai họ chắc chắn có bình điện công cụ phục vụ cho việc đánh bắt kiểu tận diệt. Ba lắc đầu, nụ cười đắng chát. Tôi thấy lòng xót xa. Trong quần thể sinh vật này, kể cả con người, đều tồn tại cái ác, cái thiện. Cá lớn nuốt cá bé, tranh chấp và hận thù. Ba tôi nhìn theo ánh đèn, ánh mắt buồn, miệng lẩm bẩm: "Đợi thêm vài hôm rồi bắt ăn cũng được mà! Mới mưa xuống đã bắt rồi! Tội!".
Rồi sáng hôm sau, ba lặng lẽ vun đất trồng vài giồng lang ăn lá, sửa mấy cái rò gieo cải, cắm chái giâm mấy dây mồng tơi. Ba chờ đợi từng mắt lá cựa mình, như chờ một thứ hạnh phúc sinh sôi theo từng phút giây. Ba không nói, nhưng tôi biết, ba trồng rau để đợi cua lớn. Mưa dài ngày, nước tràn qua bờ, chỉ thấy mênh mông màu xám bạc. Mưa ngớt, nước rút, hai bên bờ cỏ, những con cua mén nằm lúc nhúc ẩn nấp. Cua ăn phù sa, ăn cỏ xanh, ăn cả gốc rạ rục mà lớn nhanh như thổi. Cha con tôi dẫn nhau đi bắt cua. Ba dặn: "Bay bắt cua choai, cua lớn thôi. Cua mén, cua mang con ở yếm bỏ lại để nó lớn, chứ bắt kiểu tận diệt đó rồi bữa sau lấy gì bắt nữa!".
Mang cua về, tôi rửa sạch, tách yếm, rồi thả vào thùng nước sạch. Sau đó vớt ra, bỏ vô cối giã nhuyễn. Ba chỉ tôi cách rửa cua sao cho sạch, cảnh báo nếu còn bùn đất, ăn vào sẽ đau bụng, tiêu chảy. Giã xong, tôi đổ nước vào, dùng đũa khuấy đều, lọc lấy nước cua đổ vào nồi, bỏ xác cua cho gà vịt. Thêm vài hạt muối biển vừa đủ, đậy nắp lại. Sáng hôm sau, khi mắm cua đã dậy mùi, tôi bỏ thêm bột ngọt, lá gừng tươi, vài cọng măng vòi chẻ mỏng và cho lên bếp nấu cho sôi. Mùi lá gừng, ngò gai dậy lên nức mũi. Vị đăng đắng của măng vòi quyện với vị chua ngọt, đậm đà của thịt cua chín. Nghĩ tới thôi là nước miếng ứa ra.
Còn nhớ những sáng đầu đông se lạnh ngày ấy, mẹ tôi đi chợ mua bún tươi, rau sống. Cả nhà quây quần chan húp nồi mắm cua nóng hổi, trong khi ngoài trời gió mùa đông bắc tràn về. Chút nắng hiếm hoi rơi xuống hiên, con chuồn chuồn cúi đầu, mắt lim dim chờ đợi. Ánh mắt ba nhìn mẹ âu yếm, sau hơn bốn mươi năm buồn vui đủ đầy. Vẫn đậm đà như hương vị rau dưa, cà mắm quê nhà. Ba tôi không chủ trương bắt cua nhiều. Hết đâu bắt đó, ăn vừa đủ hết mùa rồi thôi, chờ năm sau lại bắt. Ba thường dặn tôi, “cái gì mà nhiều quá thì còn gì thú vị, ăn vừa vừa để còn muốn ăn nữa mới ngon”. Ông thích cảm giác chờ đợi dẫu xa xôi. Chờ một mùa cua nữa, đợi thêm một cái giỗ ông bà nội lần nữa...Ông tính tuổi theo mùa: mùa cua, mùa xoài… như một mốc thời gian riêng của mình. Có lẽ đó là tính cách của người đã đi một quãng đường dài trên cõi trần.
Nhớ hồi tôi theo chồng ra Bắc, cuối tháng mười tôi thèm mắm cua. Sáng sớm anh lội rét đi kiếm mua về chừng hai mươi con cua có giá năm mươi ngàn. Tôi kêu trời vì trong nam cha con tôi đi chừng nửa tiếng là ăn mệt nghỉ. Tôi ngồi kỳ cục làm cua, rửa cua rồi giã. Ngoài bắc lạnh nên mắm cua không ngon, không có vị chua và mùi thơm như mắm cua trong quê. Tôi chữa bằng cách nặn chanh vào, ăn tạm được thôi, chứ sao bằng mắm cua được làm ở đất trời quê xứ nẫu.
Qua hai mươi ba tháng Mười, vào lịch sạ lúa. Cua mẹ, cua con nháo nhào chạy loạn vì người ta cuốc bờ, dọn mương. Tiếng máy cày xình xịch, tiếng người lao xao. Nhiều con cua bị dập mai, gãy càng, giãy giụa đau đớn rồi nằm cứng đơ trên ruộng. Chiều đó, người ta phun thuốc diệt cỏ, cua chết đỏ cả ruộng. Lũ quạ đen theo mùi cua chết kéo về kêu như giặc dậy, náo động góc làng. Con cua nào nhanh chân lội ngược vào mương cái thì thoát, tiếp tục ẩn náu, chờ mùa mưa năm sau. Mấy năm gần đây cua cá, niềng niễng, ếch nhái cứ thưa dần...hạn hán kéo dài rồi mưa lũ dồn dập. Bọn chúng đã đi đâu, về đâu? Để lại cho người già những nhớ thương hoài niệm, tiếc nuối không nguôi.
Cuộc đời là những chuỗi dài tiếp nối, dù đời người hay đời của dòng sông, con cua, con cá. Trời sắp mưa, tôi lại thèm nghe dàn hợp xướng đồng quê ở cánh đồng gầy guộc trước nhà. Nhớ liếp rau ba trồng, nồi mắm cua đồng, và cả buổi chợ sáng đầu đông của mẹ.
Nguyễn Lan Quy
Lẩu cua đồng không chỉ đơn thuần là một món ăn, mà còn được ví như một bản hòa ca tuy dung dị nhưng hoàn hảo bởi sự hòa quyện giữa các nguyên liệu.
Hình ảnh giếng khơi ăm ắp nước với tôi là cả một miền ấu thơ với làn nước trong veo đựng cả mây trời và biết bao nỗi niềm của người dân quê chân chất.
Mỗi dòng sông khởi nguồn từ giọt nước nhỏ bé, băng qua núi rừng, thung lũng, đồng bằng… trước khi hòa vào biển lớn, cũng như con người kiên trì đi qua thử thách để tìm bến đỗ.
Ai trong chúng ta cũng có một “lối cũ” để trở về – có thể là con đường đất đỏ hun hút bóng chiều, có thể là ngõ nhỏ ngập mùi rơm rạ, hay đơn giản chỉ là khoảng sân nhà rêu phong nơi cha mẹ vẫn ngóng con về.
Món ruốc sông không chỉ là món ngon bình dị mà còn chất chứa biết bao ký ức quê nhà, nơi đã nuôi tôi lớn từ tình yêu thương và biết bao chắt chiu của ba mẹ.
Có những cơn mưa đi qua rất nhanh, chỉ đủ làm ướt một khoảng sân, một mái hiên, rồi bất chợt tạnh. Nhưng cũng có những cơn mưa ở lại trong một mùi đất ẩm, một mái hiên cũ, trong ký ức về một người đã xa.
Có những giây phút lòng ta chùng xuống khi nhớ về một khoảng sân cũ, một mùi hương quen và một câu nói đã từng nghe rất nhiều lần trong ký ức. Có lẽ bởi những gì gắn với người mình thương thường không chỉ nằm ở những điều lớn lao, mà còn ở những khoảnh khắc rất nhỏ đã đi cùng ta qua năm tháng.
Có những mùa trong năm chỉ cần một làn gió, một mùi hương hay một vệt nắng cũng đủ đánh thức trong ta cả một miền ký ức. Với mùa thu, có lẽ đó là sắc vàng - màu của nắng hanh, của đồng lúa chín, của những chiếc lá rời cành và cũng là màu của những tháng ngày đã đi qua nhưng vẫn ở lại trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người.
Có những thành phố, người ta yêu bởi vẻ đẹp của nó. Nhưng cũng có những thành phố, người ta thương bởi trong từng con phố, hàng cây, mặt hồ đều có một phần đời mình ở đó. Hà Nội với cô gái tên Nhật Hạ là một thành phố như thế. Một nơi có những điều khiến người ta mệt mỏi, nhưng cũng có những điều rất đỗi dịu dàng khiến ta đi xa rồi vẫn muốn quay về.
Có những thành phố, người ta chỉ cần sống một thời gian là có thể kể vanh vách những con phố, những hàng cây, những món ăn quen thuộc. Nhưng cũng có những thành phố, ta phải đi qua rất nhiều năm tháng, qua những mùa nắng, mùa mưa, qua những cuộc gặp gỡ và chia xa, ta mới dần hiểu vì sao mình thương nơi ấy đến thế. Hà Nội với tôi là một thành phố như vậy.
Có những mùa trăng đi qua từ rất lâu, nhưng mỗi khi nhớ lại, ta vẫn thấy nguyên vẹn một khoảng trời tuổi thơ. Đó có thể là ánh trăng rằm trên mái nhà, là tiếng trống ếch vọng từ đầu ngõ, là chiếc đèn ông sao cha tự làm hay một món quà quê giản dị được mẹ, được bà chắt chiu dành cho con trẻ.